Ví dụ về kết hôn trái pháp luật – Hủy kết hôn trái pháp luật

 Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này. Qua bài viết này, dichvulyhon.com sẽ đưa ra những ví dụ về kết hôn trái pháp luật, để các bạn có thể hiểu rõ hơn về các trường hợp kết hôn trái pháp luật.

Ví dụ về kết hôn trái pháp luật
Ví dụ về kết hôn trái pháp luật

Ví dụ về kết hôn trái pháp luật

Cưỡng ép kết hôn

Khoản 4 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.

Điều luật nhắm chủ yếu vào việc đấu tranh chống tệ nạn cưới ép, gả ép trong các gia đình Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các hủ tục phong kiến trong hôn nhân, cũng như của chế độ hôn nhân xếp đặt. Trong thực tiễn xét xử, cưỡng ép kết hôn được hiểu là hành vi của một người thứ ba chứ không phải của một trong hai bên kết hôn. Theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, người thứ ba có thể cưỡng ép một trong hai bên hoặc cả hai bên tiến hành kết hôn trái với nguyện vọng của họ.

Ví dụ về kết hôn trái pháp luật theo trường hợp cưỡng ép: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau;…)
Trong trường hợp một bên chấp nhận kết hôn do chịu sức ép của bên kia (Ví dụ: một người đàn bà có được những bằng chứng về hành vi trái pháp luật hoặc về cuộc sống sa đoạ của người đàn ông và doạ rằng nếu người đàn ông không cưới mình, thì sẽ cho công bố các bằng chứng đó ).

Ép buộc kết hôn

ép buộc kết hôn trai pháp luật

Trong Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP có ví dụ về ép buộc kết hôn bằng cách đe dọa dùng vũ lực, dùng vật chất. Ta có một vụ ép buộc kết hôn, chứ không phải một vụ cưỡng ép kết hôn.

Nói chung, thực tiễn có xu hướng thừa nhận rằng chỉ coi là có tình trạng cưỡng ép kết hôn, nếu sự cưỡng ép được thực hiện với động cơ phi đạo đức (ví dụ, cưỡng ép cưới, gả để thu tiền hoặc một lợi ích vật chất nào đó cho cá nhân người cưỡng ép); và cũng chính sự cưỡng ép đó tạo thành mặt khách quan của Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tiến bộ, tự nguyện được ghi nhận tại Điều 146 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung.

Khi xây dựng các biện pháp chế tài về hình sự tại Điều 146 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung, người làm luật lại hình dung khái niệm cưỡng ép theo nghĩa rộng nhất: đó có thể là hành vi của một bên kết hôn hoặc của một người thứ ba. Theo nghĩa đó thì khái niệm cưỡng ép bao hàm cả khái niệm ép buộc được xây dựng trong Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP.

 Lừa dối kết hôn

Luật hiện hành chỉ có định nghĩa chung về sự lừa dối, được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015 và được áp dụng cho tất cả các giao dịch dân sự, không có định nghĩa riêng về sự lừa dối trong hôn nhân: Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Có thể hiểu rằng, lừa dối trong hôn nhân là việc một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch để bên kia chấp nhận xác lập giao dịch kết hôn.

Định nghĩa này rất chung chung và khó áp dụng. Ví dụ về kết hôn trái pháp luật theo trường hợp lừa dối : A muốn kết hôn với B; C cố ý làm cho A nhầm tưởng rằng mình là B; cuối cùng, A kết hôn với C mà cứ ngỡ rằng đã kết hôn với B. Trong giả thiết vừa nêu, A có thể yêu cầu huỷ hôn nhân do có sự lừa dối. Cũng có thể xin thể huỷ hôn nhân do có sự lừa dối, nếu người đàn ông đề nghị cưới người đàn bà để làm vợ, cuối cùng lại cư xử với người đàn bà như một người giúp việc nhà.

Thế nhưng, nếu A muốn kết hôn với B vì tin rằng B giàu có và B cũng cố ý làm ra vẻ giàu có (dù thực ra rất nghèo) để A chấp nhận kết hôn với mình, thì khó có thể nói rằng A có quyền yêu cầu huỷ hôn nhân do có sự lừa dối. Càng không thể xin hủy hôn nhân do có sự lừa dối, nếu A tin rằng B là một chàng trai tơ và B cũng cố tình làm ra vẻ như vậy, dù trên thực tế, B đã có một (thậm chí nhiều) đời vợ.

Toà án nhân dân tối cao cũng không xây dựng khái niệm lừa dối trong hôn nhân mà chỉ cho một số ví dụ gọi là lừa dối như tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, một bên nói với bên kia rằng nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp, sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; một bên không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu;…

Cản trở kết hôn

ket-hon-trai-phap-luat

Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

Hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác.

+ Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v.v… nhằm mục đích cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

+ Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe dọa làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe dọa sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe dọa, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe dọa sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe dọa là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v.v…

+ Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ.

+ Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v.v…

Kết hôn giả tạo

Theo quy định tại Khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Thực tế, đại bộ phận các trường hợp kết hôn giả là vì mục đích đi xuất khẩu lao động. Thường những cô gái có nhu cầu xuất khẩu lao động thông qua dịch vụ môi giới đăng ký kết hôn với đàn ông quốc tịch nước đó sẽ nhanh chóng được nhập cư mà không phải mất thời gian chờ đợi.

Trong nhiều trường hợp, việc kết hôn giả bất thành tạo trở ngại pháp lí lớn sau này cho đối tượng kết hôn giả và con cái họ.

Ví dụ về kết hôn trái pháp luật theo trường hợp kết hôn giả tạo : chị A đã làm thủ tục kết hôn với một người đàn ông Hàn Quốc nhưng việc xuất cảnh bất thành. Chị X chấp nhận việc không sang Hàn Quốc và sau đó cưới một người cùng làng, chấp nhận không được làm thủ tục đăng kí kết hôn với người chồng thực sự vì đang có hôn nhân hợp pháp với người Hàn Quốc.

Thế nhưng khi đứa con sinh ra không được cấp giấy khai sinh do chị X cần có đơn li hôn với người chồng Hàn Quốc hoặc làm đơn cam đoan con mình sinh ra ngoài giá thú và chỉ được mang họ mẹ! Việc kết hôn giả của người mẹ vô hình trung đã xâm phạm tới quyền của đứa trẻ: Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền bình đẳng, một trong những quyền đó là được khai sinh.

Bỏ ra một số tiền lớn cho dịch vụ kết hôn giả vì mục đích xuất khẩu lao động hoặc nhập tịch nhưng rất nhiều trường hợp tiền mất tật mang. Qua thẩm tra thông tin của cơ quan chức năng, nhiều trường hợp kết hôn giả bị lật tẩy không thể đi lao động nước ngoài và mất toi một khoản tiền lớn thường là vay mượn.

Với những người trót lọt ra nước ngoài cũng phải sống trong cảnh nơm nớp lo bị an ninh sở tại phát hiện kết hôn giả và trục xuất.

Như vậy, đối với kết hôn giả tạo, mục đích kết hôn không được đảm bảo, việc kết hôn và các thủ tục pháp lý chỉ là hình thức trên mặt giấy tờ, thực tế hai người không hề chung sống với nhau hoặc nhanh chóng ly hôn sau khi đã đạt mục đích.

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định,  được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Thủ tục yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật

Hiện nay, có rất nhiều cuộc hôn nhân có yếu tố lừa dối, trái với các quy định của pháp luật. Để hạn chế được việc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định về những chủ thể được quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Điều 10.

Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 và khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc về Tòa án.

Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

Theo quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì những người sau đây có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật:

– Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn

– Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

– Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

– Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

– Hội liên hiệp phụ nữ.

Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

– Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

– Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

– Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết như trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng.

Ví dụ về Yêu cầu hủy kết hôn trái luật và công nhận quan hệ hôn nhân

Câu hỏi : Ngày 02.01.2015 anh A kết hôn với chị B.

– Ngày 08.6.2015 chị X nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân của A và B, vì chị X cho rằng A và B kết hôn trong thời gian anh A và chị đang ly thân chứ chưa ly hôn là trái pháp luật. Trong đơn yêu cầu chị X đưa ra được các chứng cứ xác thực để chứng minh.

– Ngày 26.6.2015, anh A trúng xổ số được 3 tỉ, sau đó anh lấy tiền trúng số mua một xe ô tô, giấy chứng nhận quyền sở hữu xe ô tô ghi tên anh.

– Ngày 25.7.2015, TA giải quyết cho A và X ly hôn – Ngày 28.7.2015, anh A mua một căn nhà ở đường 3/2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên anh A.

– Ngày 28.10.2015, TA giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của A và B. Tại buổi giải quyết A và B yêu cầu TA công nhận quan hệ hôn nhân của họ. Như vậy: Tòa án có công nhận quan hệ của A và B không ? Tại sao?; Xe ô tô và căn nhà là tài sản của ai? Tại sao? Rất mong Công ty giúp đỡ ?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, theo thông tin bạn cung cấp thì anh A và chị X là vợ chồng hợp pháp và quan hệ hôn nhân chấm dứt vào thời điểm ngày 25/07/2015 khi Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Trước đó, vào ngày 02/01/2015, anh A có kết hôn với chị B, đây là hành vi vi phạm điều cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”

Như vậy, A và B không đủ điều kiện kết hôn theo quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình 2014:

Do đó, việc A và B kết hôn trên thực tế không làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp, cho đến thời điểm ngày 25/07/2015 thì anh A vẫn là chồng hợp pháp của chị X. Như vậy, việc xác định chủ sở hữu đối với chiếc xe ô tô và căn nhà được tiến hành theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Quy định này được quy định cụ thể tại điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân gia đình 2014:
“Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.

2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.

3. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định trên, tiền trúng thưởng xổ số của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng và được coi là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này, A trúng xổ số vào ngày 26/06/2015 và sau đó giải quyết ly hôn với chị X vào ngày 25/07/2015 nên số tiền trúng thưởng xổ số được xác định là phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa A và X. Do đó, số tiền trúng thưởng 03 tỷ đồng là tài sản chung của A và X, số tiền A dùng để mua xe có nguồn gốc là tài sản chung nên vẫn được xác định là tài sản chung dù xe đứng tên A.

Còn đối với căn nhà,  A mua nhà sau khi A và X đã ly hôn nên quyền sở hữu căn nhà thuộc về A nếu A chứng minh được số tiền dùng để mua nhà là tài sản riêng của A.

Thứ hai, về quan hệ hôn nhân trái pháp luật của A và B. Việc xử lý việc kết hôn trái pháp luật được quy định tại Điều 11 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Sau khi A và X đã được giải quyết ly hôn vào ngày 25/07/2015, A không còn bị coi là người đang có vợ  nên quan hệ hôn nhân trái pháp luật của A và B  có thể được công nhận nếu cả A và B yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân và hai bên đáp ứng đầy đủ các điều kết hôn khác quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình 2014 nêu trên.

Bài viết liên quan
Contact Me on Zalo