Quy định về tài sản chung – riêng trong thời gian hôn nhân

Anh Nguyễn Đức Hùng ở Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội có câu hỏi nhờ Luật sư Hoàng Phú tư vấn như sau:

Vợ chồng tôi kết hôn năm 1999. Tôi làm ra nhiều tiền nên tôi mua được 1 căn nhà mặt đường, và 1 khu đất trang trại. Vợ tôi không công ăn việc làm. Bây giờ ly hôn cô ta đòi tôi chia tài sản. Theo luật sư tôi phải chia không. Muốn nhờ luật sư giúp đỡ để bảo vệ quyền lợi của tôi. Vì tiền là tôi làm ra gần như tất cả, sổ đỏ cũng đứng tên tôi, chứ cô ấy không làm được cái gì, con thì tôi nhận tôi nuôi hết vì các cháu đều học cấp 2 rồi. cám ơn luật sư. Mong phản hồi cho tôi sớm.”

———————————————————————–

Trả lời:

Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Luật sư tư vấn luật của Công ty Luật Hoàng Phú xin trả lời anh như sau:

Về căn nhà mặt đường và một khu đất trang trại bạn không nói rõ mua bằng tài sản riêng của bạn hay là tài sản chung của vợ chồng nên chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Thứ nhất, nếu mảnh đất đó bạn mua bằng tài sản được tặng cho riêng thì đó là tài sản riêng của bạn mà không cần phải chia khi ly hôn. Tuy nhiên theo Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 nếu như vợ bạn có công sức trong việc đóng góp, làm tăng giá trị của căn nhà hoặc mảnh đất đó thì bạn cần phải thanh toán cho vợ phần giá trị của tài sản.
Thứ hai, theo như bạn nói làm được nhiều tiền và mua được khu đất trang tại và căn nhà thì sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Bời vì theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 1986 xác định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”. Do đó, căn nhà bạn mua cùng với khu đất trang trại được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Còn sổ đỏ chỉ đứng tên bạn cũng không thể chứng minh được đó là tài sản riêng, bởi vì theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 70/2010/NĐ-CP thì:

“Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã đăng ký quyền sở hữu trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng, thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên của cả vợ và chồng; nếu vợ chồng không yêu cầu cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, thì có nghĩa vụ chứng minh”.

Do đó, khi ly hôn bạn vẫn phải chia căn nhà và khu đất đó cho vợ, tuy nhiên:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.” (Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014).

Theo bạn nói thì vợ không làm gì để tạo nên khối tài sản trên cho nên vợ bạn có thể chỉ được hưởng 1/3 số tài sản

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật sư Hoàng Phú. Trong quá trình giải quyết hồ sơ sẽ còn phát sinh nhiều tình tiết và nội dung cụ thể. Vì vậy việc giải quyết hồ sơ có thể thay đổi theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho anh.

Hãy liên hệ Luật sư Hoàng Phú để được bảo vệ quyền lợi một cách tối đa.

Bài viết liên quan

09 69 60 30 30

Contact Me on Zalo